Chùa Phật Tích nổi tiếng được công nhận di tích quốc gia

Chùa Phật Tích nổi tiếng là Di tích lịch sử văn hóa quốc gia còn gìn giữ được di vật cổ của Phật giáo với số lượng lớn và đa dạng. Lạn Kha có nghĩa là cán búa nát, nổi danh bởi tích truyện Vương Chất lên núi đốn củi gặp hai ông tiên đánh cờ, mải mê xem không hay rằng cán búa đã mục nát vì thời gian trần thế trôi qua đã hàng trăm năm.

Sách “Đại Việt Sử Ký toàn thư” viết : Mùa đông, tháng 10 (năm 1041), vua ngự đến núi Tiên Du xem làm viện Từ Thị Thiên Phúc. Khi về, xuống chiếu phát 7.560 cân đồng trong kho để đúc tượng Phật Di Lặc cùng hai vị Bồ tát Hải Thanh và công đức cùng chuông để ở viện”.

Ngôi chùa nổi tiếng này được xây dựng đại quy mô vào triều Lý Thánh Tông năm Đinh Dậu, văn bia “Vạn Phúc Đại Thiền tự” chép: “Vua thứ ba đời Lý, năm Long Thụy Thái Bình thứ 4 (1057) cất lên cây tháp quý ngàn trượng, xây một trăm tòa thờ Phật, lại dựng pho tượng mình vàng cao 6 xích”. Năm 1057, Vua Lý Thánh Tông du ngoạn cảnh chùa, người cảm khái tự tay viết chữ “Phật” dài 1 trượng 6 thước, truyền thợ khắc vào bia đá.

Tới thời Trần, Vua Trần Nghệ Tông cho xây điện Bảo Hòa và thư viện Lạn Kha, đồng thời mở kỳ thi Thái học sinh tại chùa. Năm Chính Hòa thứ 7, bà chúa Trần Thị Ngọc Am (đệ nhất cung tần của Thanh Đô vương Trịnh Tráng) về ngôi chùa nổi tiếng này tu hành, nâng cấp chùa với quy mô đồ sộ. Năm 1947, do chiến tranh chùa bị phá hủy hoàn toàn, năm 1986 được dựng lại lần đầu nhưng đến năm 1991, chùa mới được phục dựng theo quy mô kiến trúc cổ và hiện nay trở thành nơi thánh tích ngàn năm của Phật giáo mà người hành hương phật giáo gần xa biết đến ngày nay.

Chùa Phật Tích không xa chùa Dâu, nằm trên vùng đất diễn ra cuộc gặp gỡ giữa Phật giáo Ấn Độ và tín ngưỡng dân gian Việt Nam có từ đầu công nguyên, trên cơ sở đó hình thành trung tâm Phật giáo Dâu – Luy lâu. Vào đầu thế kỷ XVI, chùa Phật Tích cùng với chùa Bút Tháp là cái nôi của dòng thiền Lâm Tế. Năm 1633, Thiền sư Chuyết Chuyết và đệ tử Minh Hành phiêu dạt sang phương Nam, tới kinh đô Đại Việt. Thầy trò thiền sư đã được vua Lê, chúa Trịnh cùng hoàng thân quốc thích Lê triều mộ đạo sùng tín. Tổ sư Chuyết Chuyết về trụ trì chùa Phật Tích gần 10 năm, tới năm Dương Hòa thứ 8 (1642) mới chuyển sang trụ trì chùa Bút Tháp.

Với số lượng di sản vật thể vô cùng nhiều và phong phú, chùa được xếp vị trí hàng đầu về giá trị cổ vật. Tiêu biểu phải kể đến: tượng Phật A Di Đà (1057); chân cột chạm dàn nhạc (1057); hàng thú trước sân chùa (thời Lý); pho tượng táng của thiền sư Chuyết Chuyết; 32 bảo tháp (thế kỷ XVII – thế kỷ XX)…

Chùa Phật Tích nổi tiếng là Di tích lịch sử văn hóa quốc gia còn gìn giữ được di vật cổ của Phật giáo với số lượng lớn và đa dạng. Khai quật khuôn viên chùa Phật Tích vào những năm 1949-1951, các nhà khảo cổ đã tìm thấy rất nhiều tác phẩm điêu khắc đá cổ, đưa về trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia: những mảnh đá chạm rồng và hoa lá; nhiều mảnh lá đề bằng đá kích thước to nhỏ khác nhau, trên mặt chạm rồng; pho tượng Kim cương bảo vệ Phật pháp thế kỷ XI; tảng đá chạm hình hoa văn sóng nước thế kỷ XI; tượng nữ thần chim; mảnh đá chạm đầu tượng tiên nữ…mà du khách hành hương phật giáo có thể chiêm ngưỡng ngày nay tại bảo tàng.

Tượng Kim cương bảo vệ Phật pháp được trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử trong tư thế đứng, khoác áo long cổn, hai tay để trước ngực, pho tượng này cùng với tượng Phật A Di Đà (hiện vẫn tôn trí ở chùa Phật Tích) đều tạc năm 1057, là những pho tượng cổ nhất miền Bắc. Một trong những tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu tìm thấy từ chùa Phật Tích là tượng nữ thần chim, niên đại 1057. Nữ thần được tạc trong tư thế bán thân, với đôi tay đã được thay bằng đôi cánh mang đầy tính sáng tạo nghệ thuật.

Nghệ thuật chạm khắc hoa văn cánh sen xuất hiện sớm nhất trên những tảng đá kê chân cột ở ngôi chùa nổi tiếng Phật Tích này, và đạt tới trình độ điêu luyện. Tại Bảo tàng Lịch sử cũng trưng bày một tảng đá kê chân cột cỡ lớn còn nguyên vẹn, niên đại 1057. Tảng đá hình vuông, kích thước mỗi chiều 1m, vòng chân cột có đường kính 60cm. Quanh chân cột là vòng cánh sen được chạm nổi vô cùng tinh tế, với 16 cánh sen chính, cùng 16 cánh sen phụ xen kẽ.

Mỗi cánh sen chính trông giống như những mai rùa, trên mặt chạm đôi rồng đối xứng hai bên ẩn hiện trong mây, ôm lấy lạc thư ở giữa. Đây cũng là một kiệt tác điêu khắc đá, mở đầu và đại diện cho môtíp kiến trúc: tảng đá kê chân cột chạm cánh sen, một dòng chảy văn hóa Phật giáo lan truyền rộng khắp vùng Bắc Bộ.

Pho tượng A Di Đà ngự tại Thượng Điện ngôi chùa nổi tiếng ấy chiếm vị thế vô cùng quan trọng đối với nền mỹ thuật dân gian ở nước ta. Đây là pho tượng cổ nhất miền Bắc (niên đại 1057), đã được công nhận kỷ lục Phật giáo, đồng thời tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia và Bảo tàng Mỹ thuật đều có phiên bản của pho tượng này.

Pho tượng A Di Đà chùa Phật Tích là bảo vật quốc gia có kích thước tương đối lớn, cao 1,85m, nếu tính cả bệ là 2,8m. Thân tượng biểu đạt một vị Phật đang ngồi tọa thiền, mắt khép hờ trong thiền định, làm nên khí sắc thanh tịnh tươi nhuần. Vẻ mặt thể hiện nội tâm cân bằng giữa động và tĩnh. Đầu tượng kết tóc xoắn ốc, vầng trán mở rộng thể hiện trí tuệ, tuổi thọ vô lượng. Hai bên má đầy đặn trông phúc hậu, nhân ái. Hai tai dài rộng, thành quách rõ ràng, dái tai tròn mọng chảy sệ xuống. Sống mũi thẳng, nảy nở, thể hiện sự bao dung rộng lượng.