Chùa Hải Đức – Chùa nổi tiếng Nha Trang

Chùa Hải Đức được “Khởi công từ đầu năm Quý Mùi (1943) đến đầu năm Ất Dậu (1945) mới cáo thành. Cảnh trí đẹp đẽ, cao sang, tuy gần thành phố mà ly trần thoát tục.

Chùa Hải Đức phải giao cho đệ tử coi sóc. Thỉnh thoảng Hòa thượng mới vào thăm. Rồi tuổi già sức yếu, việc đi lại khó khăn, năm Bảo Đại thứ 14 (1938), Hòa thượng bèn giao nhiệm vụ trú trì chùa Hải Đức cho Bích Không Đại sư. Bích Không Đại sư (pháp danh Trừng Đàn, tục danh Hoàng Hữu Đàng, quê quán Quảng Trị) xuất thân trong một gia đình khoa bảng. Ngài đậu tú tài năm Mậu Ngọ (1918), đắc pháp năm Ất Hợi (1935) trong giới đàn chùa Sắc Tứ Tịnh Quang tỉnh Quảng Trị, nên cũng còn được gọi là Giác Phong Đại sư. Khi nhận lãnh chùa Hải Đức Nha Trang thì chùa đã quá cũ, lại thêm thành phố Nha Trang mỗi ngày lại thêm đông đúc, xe ngựa mỗi lúc thêm ồn ào, cảnh thiền môn khó giữ được không khí trang nghiêm thanh tịnh, đại sư, với sự đồng ý của HT Phước Huệ, bèn lo chọn một thắng địa thích hợp để dời chùa Hải Đức Nha Trang. Sau ba năm dấn bước khắp danh sơn thắng địa tỉnh Khánh Hòa, Đại sư mới tìm được nơi vừa hợp với cảnh tu tâm dưỡng tánh của các bậc xuất gia, vừa tiện cho việc độ tha của hạnh nguyện đại thừa. Đó là: Hòn Trại Thủy.”

Chùa Hải Đức Nha Trang được “Khởi công từ đầu năm Quý Mùi (1943) đến đầu năm Ất Dậu (1945) mới cáo thành. Cảnh trí chùa này đẹp đẽ, cao sang, tuy gần thành phố mà ly trần thoát tục, tuy dựa chốn đô hội phồn hoa mà vẫn giữ được vẻ thanh u tĩnh mịch. Chùa cất theo kiểu thức Á Đông, trang nghiêm cổ kính.”

Chùa nổi tiếng Việt Nam, Chùa nổi tiếng miền trung, chua noi tieng Nha Trang, chùa ở Nha Trang, chua Hai Duc Nha TrangChùa Hải Đức – Chùa nổi tiếng Nha Trang

Một nhà nghiên cứu cũng nhận xét: “Vốn nhà khoa bảng xuất thân, Đại sư văn hay chữ tốt. Đến thăm chùa Hải Đức, du khách hành hương Phật giáo sẽ nhận thấy tinh thần và cốt cách của Đại sư chẳng những nơi kiểu kiến trúc của ngôi chùa mà còn ở tác phẩm văn chương nơi tự tích của Đại sư khắc chạm trên vách cột mà mưa nắng vẫn còn nguyên. Có thể nói một cách mạnh dạn rằng đó là những tuyệt phẩm của Thiền môn Khánh Hòa.

Vậy thì nhân duyên nào để chùa trở thành Phật học Viện Trung Phần? Chúng ta hãy cùng nhẹ tay phủi bụi thời gian trên những trang sách cũ.

Khóa đầu tiên của chùa quy tụ được 105 học Tăng gồm cả ba cấp Tiểu, Trung và Đại học. Chương trình học gồm cả nội điển và ngoại điển. Dĩ nhiên phần nội điển phải là phần căn bản và được chú trọng hơn nhiều. Riêng trong ba tháng kiết hạ (từ 15-4 đến 15-7 âm lịch) các học Tăng chỉ chuyên lo tu hành và chỉ học phần nội điển. Chương trình giáo khoa học bằng tiếng Việt và Hán văn là cổ ngữ chính. Sinh ngữ phụ là Anh văn, Pháp văn, cổ ngữ Pali và Sancrit. Về thành phần giảng sư, ngoài những bậc cao tăng tinh thông kinh tạng hoặc những vị tài cao học rộng thường xuyên giảng dạy như quý Thầy Thích Trí Thủ, Thích Thiện Siêu, Thích Minh Châu, Thích Thiện Ân… thì còn có cả những bậc thức giả là các cư sĩ tại gia có trình độ uyên thâm cũng được mời thỉnh giảng như học giả Cao Hữu Đính (giảng giải và biên dịch kinh tạng, dạy Pháp văn; thỉnh thoảng cũng còn phụ trách thêm hai môn Sử ký và Địa lý), thi sĩ Quách Tấn (dạy môn Quốc văn), nhà văn Võ Hồng và cả những giáo sư thỉnh giảng được mời từ Saigon ra như Ngô Trọng Anh, Doãn Quốc Sĩ…

Nguồn: Hoavouu

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *