Chùa Nành – ngôi cổ tự nổi tiếng đất Gia Lâm Hà Nội

Chùa Nành còn gọi khác là Pháp Vân cổ tự, một ngôi chùa nổi tiếng ở xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm là một trong bốn ngôi chùa thờ Tứ Pháp vào loại lớn nhất ở miền Bắc nước ta.  Chùa là một trong bốn ngôi chùa thờ Tứ Pháp vào loại lớn nhất ở miền Bắc Việt Nam. Chùa được xây dựng vào thời nhà Lý.

Nằm ở thế đất rồng cuốn, hổ chầu, tổng thể kiến trúc của chùa được trải dài với tòa tiền đường 7 gian 2 chái, nhà thiêu hương 6 gian và 3 thượng điện. Nhà giải vũ hai bên nối liền từ tiền đường xuống điện Mẫu. Nổi bật nhất của kiến trúc ngôi chùa Nành là tòa thủy đình (còn gọi là phương đình) được đặt trên hồ nước. Tòa thủy đình có 2 tầng 8 mái có thể dùng làm nơi biểu diễn múa rối nước trong ngày hội lễ như ở chùa Thầy (xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai).

Hội của chùa Nành còn gọi là hội nâng phan chỉ có ở làng Nành. Cây phan tượng trưng cho khóm lúa. Khóm lúa được nâng lên khỏi miệng hố, thể hiện ước vọng của cư dân nông nghiệp và người hành hương lễ phật cầu mong cho sự no đủ, hạnh phúc.

Chùa đã qua nhiều lần trùng tu nhưng vẫn giữ được đường nét cổ kính trong kiến trúc và điêu khắc. Với sự kết hợp đền Thần với chùa Phật. Chùa Nành đã được Bộ VHTT công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia năm 1989. Chùa Nành hiện còn lưu giữ được nhiều di vật của thế kỷ XVII, XVIII, như chuông đồng đúc năm 1653, khánh đồng đúc năm 1733, ba tấm bia đá cùng nhiều pho tượng gỗ phủ sơn rất quý như bộ tượng Tam Thế Phật (tượng cao 0,80 m, tòa sen và đế cao 0,70 m), tượng Tuyết Sơn (cao 0,73 m), tượng Bát bộ Kim Cang (cao 1,56 m), tượng Thập Điện Minh Vương (cao 1,35 m), tượng Thập bát La Hán (cao 1,08 m), tượng Bà Nành…  Trong đó, bộ Tam Thế vừa có giá trị nghệ thuật cao vừa có niên đại sớm, niên đại thế kỷ 16.

Ngũ môn của ngôi chùa nổi tiếng này được xây hai tầng kiểu vòm cuốn bằng đá xanh. Tòa tiền đường có kiểu dáng độc đáo, hiếm thấy ở các ngôi chùa thuộc vùng đồng bằng sông Hồng. Sát hai bên hồi, nổi lên hai góc mái nhỏ, mỗi góc 4 mái, có 4 đao nhỏ cong vút tỏa ra 4 phía: đó là gác chuông và gác khánh. Nằm giữa 2 góc có đôi rồng chầu mặt trăng khá lớn, tạo vẻ uy nghi, đường bệ mà vẫn gần gũi với đời thường. Bộ vì kèo làm theo kiểu “thượng cốn, hạ kẻ” cũng là một nét đặc trưng của kiến trúc chùa Nành.

Tòa thượng điện có nền cao hơn so với xung quanh giúp chúng ta biết được ngôi chùa rất cổ, ít nhất có từ thời Mạc. Điều này hoàn toàn phù hợp với tấm bia đá dựng năm Diên Thành thứ 6 (1583). Ngoài tượng Pháp Vân, chùa Nành còn có 116 tượng Phật, tượng Mẫu, tượng Hậu được tạo tác tỉ mỉ, công phu. Nhiều tượng có niên đại nghệ thuật điêu khắc cuối thế kỷ 17, 18 và 19.

Ở hành lang của chùa còn có tượng các vị tổ truyền đăng (tức các tổ đem ánh sáng của Phật truyền cho đời) mà người Việt thường gọi là 18 vị La Hán. Đáng chú ý là hình tượng một vị tổ được tạc trên hòn đá tự nhiên. Đây cũng là một hiện tượng riêng có ở chùa Nành mang chất nghệ thuật truyền thống của người Việt.

Hệ thống di vật trong chùa rất phong phú về thể loại và chất liệu. Đó là những bia đá, chuông đồng, khánh đồng, thần phả, sắc phong cổ và quý từ các vương triều Lê, Mạc đến Tây Sơn và Nguyễn. Đáng lưu ý là quả chuông Pháp Vân tự niên hiệu Thịnh Đức thứ nhất (1653). Quả chuông mang phong cách nghệ thuật đúc đồng thời Mạc (thế kỷ 17) khá đặc sắc: quai có hình 2 con rồng chạy ra, đuôi rồng chầu vào nhau, đầu rồng bò xuống thân chuông. Núm chuông trang trí các hình hoa cúc, viền chuông bằng cánh hoa sen cách điệu. Vai chuông thon, đáy nở theo kiểu thượng thu, hạ thách. Có thể thấy đây là một trong số không nhiều quả chuông cổ và quý còn lại trong các ngôi chùa nổi tiếng ở nước ta.

Chùa Nành có nguồn sử liệu và di vật đa dạng thực sự là di sản văn hóa quý giá của Thủ đô và cả nước, được nhiều nhà khoa học trong nước và quốc tế đến nghiên cứu. Không chỉ là công trình Phật giáo mà chùa Nành còn là di tích cách mạng.